Khách sạn ngôi sao Tam Đảo nằm ở trung tâm Thị trấn Tam Đảo với diện tích 5000m2, được xây dựng từ đầu những năm 1968, và được nâng cấp từ giữa năm 2008 với 50 phòng ngủ, và hội trường 300 chỗ.
Cũng tại nơi đây khách sạn còn có nhà hàng Sky Garden sức chứa đến 400 chỗ phục vụ đại tiệc và khu vườn Cafe Q phục vụ ăn sáng, tiệc nướng buổi tối, sẽ làm cho quý khách cảm thấy được thư giãn, và tận hưởng hết khoảng thời gian mà quý khách đến với Thị trấn Tam Đảo cổ kính này.
 Đội ngũ cán bộ công nhân viên Khách sạn ngôi sao Tam Đảo với hơn 30 năm kinh nghiệm, có truyền thống phục vụ cam kết luôn luôn cung cấp những dịch vụ tốt nhất, thuận tiện nhất, hoàn hảo nhất để làm hài lòng quý khách.
 

Loại phòng :
Giá :
Ngày đặt phòng:      
Ngày trả phòng:      
Hệ thực vật Rừng Quốc gia Tam Đảo
Hệ thực vật rừng Tam Đảo
 
Vườn Quốc gia Tam Đảo có các kiểu rừng chính sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp.
- Kiểu rừng lùn trên đỉnh núi.
- Một số kiểu rừng khác.
 
Kiểu rừng này thường phân bố ở độ cao dưới 800m, nhưng do ảnh hưởng của độ dốc, hướng phơi mà loại rừng này có thể phân bố ở độ cao 900 - 1000m. Kiểu rừng này bao phủ phần lớn dãy núi Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế như Chò chỉ (Shoera chinensis), Giổi (Michelia sp..), Re (Cinnamomum sp.)…
Do sự gia tăng dân số quá nhanh và nhu cầu về gỗ củi của nhân dân trong vùng cũng tăng theo, nên kiểu rừng này cũng bị khai thác, lợi dụng nhiều trong những năm từ 1970 - 1995.
Diện tích kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nguyên sinh còn lại rất ít, đa phần đã bị tàn phá với hình thức chặt chọn làm kết cấu tổ thành loài và tầng thứ thay đổi nhiều. Nhìn chung quần hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng có chiều cao tới 25m, tán kín rậm với những loài cây lá rộng thường xanh hợp thành.
- Tầng vượt tán hình thành bởi một số loại cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) như: Chò nâu (Dipterocarpus petusus), Táu muối (Vatica fleuryana), Giổi (Michelia sp.), và Trường mật (Pavviesia anamensis)…
- Tầng ưu thế gồm một số loài cây thuộc họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Cà phê (Rubiaceae),
- Tầng dưới tán gồm một số loài cây mọc rải rác dưới tán rừng thuộc các hộ Máu chó (Myristicaceae), họ Na (Annonaceae).
- Dưới nữa còn tầng cây bụi có các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), Đơn nem (Myrsinaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae). cuối cùng là tầng cỏ Quyết, ở những nơi khe ẩm có xuất hiện loài Quyết thân gỗ.
 
Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp ở Tam Đảo phân bố từ độ cao 800m trở lên nhưng đôi khi phân bố trên 900m. Quần hệ thực vật của kiểu rừng này không còn các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) . Thực vật bao gồm các loài họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae). Đây là vành đai của những loài cây thuộc khu hệ á nhiệt đới, còn được gọi là vành đai mây. Không khí luôn ở tình trạng bão hoà hơi nước, nên tạo điều kiện thuận lợi cho Rêu và Địa y phát triển. Ngoài những cây thuộc các họ kể trên, từ độ cao 1000, trở lên xuất hiện một số loài cây thuộc ngành Hạt Trần như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông tre (Podocarpus neriifolius). Ngoài ra, còn thấy các loài Thông yên tử (Podocarpus pilgeri), và Kim giao (Nageia fleuryi).
Ở một vài nơi trên sườn Đông núi Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, mật độ cây Hạt trần dày hơn, chủ yếu là Pơ mu (Fokienia hodginsii) tạo nên một quần thể hỗn hợp giữa các loài cây lá rộng và lá kim còn gọi là kiểu phụ hỗn hợp lá rộng, lá kim.
Dưới tán rừng á nhiệt đới thường có Vầu  đắng. Lên cao hơn nữa là Sặt gai (Arundinaria giffithiana) mọc dày đặc dọc theo các dông núi. Ven theo các sườn núi thường có các loài cây bụi thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)…
 
Rừng lùn trên đỉnh núi là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp được hình thành trên các đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao đất xương xẩu, nhiều nắng gió, mây mù thường xuyên bao phủ. Cây cối ở đây thường thấp bé, phát triển chậm, thân và cành được Địa y và Rêu bao phủ. Đất dưới tầng rừng khá mỏng nhưng có tầng thảm mục khá dày (ở một số nơi như đỉnh Rùng Rình, tầng thảm mục có thể dày hơn 1m).
Thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), Giổi nhung (Michelia faveolata), Hồi núi (Illicium griffithii). Từ các đỉnh cao của Tam Đảo xuống thấp hơn, các loài thuộc họ Đỗ quyên giảm dần, các loài thuộc họ Re (Lauraceae), họ Hồi (Illiciaceae), họ Thích (Aceraceae) tăng lên về số lượng cá thể.
 
Khi rừng thuộc hai loại trên bị phá thì các loài Tre, nứa mọc xen vào hoặc chuyển hẳn thành rừng tre, nứa. Ở đai cao hơn 800m, loài tre tiêu biểu là Vầu và Sặt gai. Đai trung bình là Giang (ở độ cao từ 500 - 800m), còn thấp hơn (dưới 500m) là Nứa.
 
Vườn Quốc gia Tam Đảo có 23  xã vùng đệm nằm trên địa bàn 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang bao quanh. Rừng ở đây trước những năm 80 bị tác động mạnh bởi hoạt động khai thác gỗ của các Lâm trường đóng trên địa bàn giáp ranh với Vườn và canh tác nương rẫy của nhân dân vùng đệm. Sau khi thành lập Vườn Quốc gia Tam Đảo, việc đốt nương làm rẫy đã giảm xuống rõ rệt. Do tác động mạnh của con người, thành phần thực vật ở đây ít nhiều có biểu hiện cho thực vật rừng thứ sinh được phục hồi sau khi đất được sử dụng cho canh tác nương rẫy hoặc phục hồi sau khi rừng được khai thác.
Sau khi khai thác, làm nương rẫy rừng được khôi phục bởi các loài như Bục trắng (Mallotus apelta), Bục bạc (Mallotus paniculatus), Ba soi (Macaranga denticulata), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Thẩu tấu (Aporosa dioica), Dền (Xylopia vielana), Dung (Symplocos sp.), Màng tang (Litsea cubeba), … Loại hình rừng này thường mọc thành các chòm rải rác thuộc các xã như Quân Chu, Phú Xuyên, La Bằng thuộc huyện Đại Từ và các xã Hợp Hoà, Kháng Nhật thuộc huyện Sơn Dương .
Trên các loài đất Feralit đỏ vàng, đỏ nâu, vàng, có rừng thứ sinh với thành phần loài cây phong phú hơn cụ thể là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh trong đó đáng lưu ý nhất là Mán đỉa (Pithecolobium clypearia), Chẹo tía (Engelhardtia sp.), Dung (Symplocos sp.), Lim xẹt (Peltophorum ptorocarpum)…
Rừng phục hồi ít bị tác động được thấy ở các xã thuộc huyện Sơn Dương. Do các diện tích đó được giao khoán cho người dân chăm sóc. Vì vậy, các loài thực vật rừng có giá trị còn tồn tại khá phong phú, trong đó Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Trâm (Syzygium sp.), Mán đỉa (Pithecolobium clypearia), Côm (Elaeocarpus silvetris), Trám (Canarium spp.), các loài họ Xoan (Meliaceae), đại diện các loài Ficus spp. (họ Moraceae), Thôi chanh (Alangium chinense), Sòi tía (Sapium discolor), Sau sau (Liquidambar formosana), một số loài cây bụi và thảo thuộc họ Mua (Melastomataceae), như Melastoma, Mememcylon, Medinilla… hoặc Dương xỉ thân gỗ Cyathea, và các loài thuộc Dương xỉ.
 
Rừng trồng Tam Đảo đã có từ thời kỳ Pháp thuộc. Đó là những diện tích rừng Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) được trồng dọc hai ven đường lên thị trấn Tam Đảo để tạo cảnh quan đẹp cho khu du lịch Tam Đảo, cải thiện môi trường sinh thái và rừng Lim xanh rất tươi tốt chạy dọc theo dải đồi thấp từ xóm Thông đến gần đồi Giếng. Do con người chặt phá nên hiện nay rừng đó chỉ có khoảng 190 ha ở Phù Mây với mật độ 300 cây/ha. Loài dứa hoa được trồng dưới tán rừng Lim xanh sinh trường phát triển rất tốt cho năng suất cao và chất lượng quả ngon.
Năm 1962, công tác trồng rừng mới được bắt đầu trở lại ở Tam Đảo. Loài cây trồng chủ yếu là những loài cây nhập nội như Thông, Bạch đàn và gần đây là Keo lá tràm và Keo tai tượng, tạo thành 3 loài rừng chính:
 
a. Rừng Thông đuôi ngựa
Rừng thông đuôi ngựa trồng ở độ cao và lập địa khác nhau. Rừng dưới 10 tuổi có mật độ 1.400 - 1.800 cây/ha, cao nhất là 2.200 cây/ha. Rừng ở độ tuổi 15 có mật độ trung bình từ 1.300 - 1.400 cây/ha. Nhưng ở tuổi trên 20, mật độ chỉ còn lại từ 700 - 900 cây/ha. Mật độ giảm sút này là do hậu quả của việc chặt phá của dân trong vùng. Ở tuổi 20, đường kính trung bình 20cm, chiều cao biến động từ 14-17m với trữ lượng 200m3/ha. Nhìn chung, rừng phát triển đều, lượng sinh trưởng trung bình về đường kính từ 0,6 - 1cm/năm.
b. Rừng Bạch đàn
Bạch đàn là loài cây nhập nội được trồng từ năm 1962 chủ yếu là Bạch đàn liễu (Eucalyptus exerta). Loài cây này sinh trưởng chậm nhưng có khả năng phát triển trên những vùng đồi cao. Trong một thời gian dài, Bạch đàn liễu là cây chủ yếu.  Hiện nay những rừng bạch đàn liễu cơ bản đã được khai thác hết. Giống Bạch đàn mới (Eucalyptus camaldulensis), nhập từ Australia đã được trồng hầu khắp xung quanh chân Tam Đảo . Loài cây này có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao. Với mật độ trồng 2500 cây/ha và tốc độ sinh trưởng nhanh, Rừng trồng bạch đàn chỉ 2 năm đã khép tán.
Một số xã ven Tam Đảo thuộc huyện Sơn Dương và Tam Đảo còn trồng thêm loại Bạch đàn  mà dân ở đây quen gọi là Bạch đàn "Rau dền" (Eucalyptus urophylla). Bạch đàn này sinh trưởng chiều cao chậm hơn so với Bạch đàn trắng, nhưng sinh trưởng đường kính cũng không kém. Ưu điểm của loài này là thân cây cứng chắc, mọc thẳng và ít bị đổ nghiêng khi còn non.
c. Rừng Keo
Loài Keo phổ biến được trồng hiện nay là Keo lá tràm (Acasia auriculiformis) và Keo tai tượng (Acacia mangium). Chúng là những loài cây thuộc họ Vang (Caesalpiniaceae) được nhập nội và trồng ở nước ta trong nhiều năm.
Keo ở Tam Đảo nhìn chung sinh trưởng tốt. Nó được trồng thuần loài và trồng hỗn giao với Bạch đàn. Cây có  đặc điểm: Tán lá dày chậm phân huỷ, rễ cây có nốt sần nên có tác dụng che phủ và cải tạo đất rất tốt. Nhưng Keo có nhược điểm là phân cành sớm, nhiều thân, cây nhỏ, giá trị sử dụng kém nên hiện nay ít được phát triển.
 
            Thành phần thực vật trảng cây bụi không phong phú nhưng số lượng cá thể lại nhiều. Nguyên nhân chính là do sự thoái hoá của đất, thành phần dinh dưỡng nghèo, độ ẩm thấp, xói mòn xảy ra mạnh mẽ. Đây là những vùng núi đất phát triển trên đá sa thạch, phiến thạch sau nhiều lần rừng bị khai phá làm nương hoặc chặt trắng hoặc bị đốt cháy thường xuyên hoặc sau khai thác mỏ (mỏ thiếc Sơn Dương, mỏ thiếc than núi Hồng, Đại Từ) các loại trảng được hình thành, sau đó các loại cây bụi ưa sáng mọc nhanh cũng xuất hiện và phát triển tốt .
Thành phần các loài cây bụi ở đây là các cây ưa sáng, chịu hạn, nhiều khi có cả lá cứng và có gai. Phổ biến là Thẩu tấu (Aporosa dioica), Thổ mật (Bridelia tomentosa), Thao kén (Helicteres spp.), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Me rừng (Phyllanthus emblica), Mua rừng (Melastoma soptemnervium), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Màng tang (Litsea cubeba), Sầm (Memexylon edule), Chổi xuể (Baeckea frutescens), Lau (Saccharum), Tơ xanh (Casytha filiormis), Bòng bong (Lygodium sp.), Kim cang (Smilax sp.), cỏ tranh (Imperata cylindrica), Seo gà (Pteris multifida)…, Số cá thể nhiều thường tập trung vào một số họ như họ Mua (Melastomaceae), họ Sim  (Myrtaceae), họ Hoà Thảo (Poaceae).
 
Thành phần thực vật trảng cỏ được hình thành trên các kiểu rừng đã bị khai thác, đất bị thoái hoá mạnh do đốt nương hàng năm, có thể phân biệt bằng hai loại hình sau:
- Trảng cỏ cao: thường gồm các loài cỏ cao khoảng 2m mọc thành từng bụi như Lách  (Saccharum spontaneum), Cỏ chít (Thysanolema maxima), mọc chung với cỏ Lào (Chromolaena odorata), rải rác trên trảng cỏ này có các cây bụi như: Thao kén (Helicteres spp.), Chổi xuể (Baeckea frutescens), Thẩu tấu (Aporosa dioica), Bùm bụp (Mallotus barbatus), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa)… Trảng cỏ cao phân bố rải rác ở độ cao dưới 400m ở các bãi trống ven đường Tam Đảo 1.
- Trảng cỏ thấp: Thường gồm các loài cỏ thấp hơn 1m, mọc thành thảm cỏ dày đặc hoặc rải rác. Thành phần loài tương đối nghèo nàn, cỏ tranh (Imperata cylindrica) chiếm ưu thế. Ngoài ra còn có cỏ đắng (Paspalum scrobiculatum), cỏ sâu róm (Setaria viridis), …
 
 Đặc điểm về địa hình, hướng phơi, độ cao, khí hậu, thuỷ văn, tác động của con người kết hợp với đặc tính sinh thái của từng loài cây đã tạo nên tính đa dạng về loài sự phân bố, giá trị sử dụng, và các loài cây quý hiếm của hệ thực vật ở Tam Đảo.
            Nhìn chung, hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú, được phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau như: Trảng cây bụi, trảng cỏ, các loài cây gỗ trên núi đất và núi đá. Đến nay ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã điều tra thống kê được 1436 loài thuộc 741 chi trong 219 họ của 6 ngành thực vật, cụ thể là:
 
Số TT
Tên ngành
Số loài
Tỷ lệ (%)
1
Hạt kín
1149
80,01
2
Hạt trần
17
1,18
3
Thông đất
13
0,91
4
Cỏ tháp bút
1
0,07
5
Dương xỉ
59
4,11
6
Rêu
197
13,72
 
 Trong đó có 58 loài mang nguồn gen quí hiếm và 68 loài đặc hữu có tên trong sách đỏ của Việt Nam và sách đỏ thế giới. Những loài này được ưu tiên, bảo tồn và phát triển.
Ở Tam Đảo cũng có khác nhiều nhóm cây có giá trị kinh tế như nhóm cây gỗ, cây thuốc, cây làm rau, cây cung cấp tanin, cây ăn quả và cây cảnh. Hệ thực vật nơi đây tập trung nhiều loài có quan hệ với thực vật Nam Trung Quốc và một số loài mang tính chất ôn đới.
Trong các họ đã điều tra, những họ có nhiều loài phân bố trong khu vực là:  họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae).
Một số họ cho đến nay phát hiện chỉ có một chi, một loài điển hình như: họ Thông đất (Lycopodiaceae), họ Dương xỉ mộc (Cyatheaceae), họ Tuế (Cycadaceae), họ Kẹn (Hippoccastanaceae), họ Thanh thất (Simaroubaceae), họ Gối hạc (Leeaceae)…
Một số loài có phạm vi phân bố rộng như: Chè đuôi lươn (Andinandra intalgerrima), Mang xanh (Pterospermum heterophyllum), Thôi ba (Alangium chinense), Thâu lĩnh (Alphonsea squamosa),  …
Một số loài có phạm vi phân bố hẹp như: Dẻ tùng sọc trắng (Sam bông) (Amentotaxus argotaenia), Thông tre lá ngắn (Nageia pilgeri), Thích lá xẻ (Acer willson), Trầu tiên (Asarum maximum), Kim giao (Podocapus fleuryi), Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii)…
Hệ thực vật rừng Tam Đảo còn đa dạng về các loài quý hiếm. Có rất nhiều loài thực vật quý hiếm đã được phát hiện, chúng phân bố ở các đai cao khác nhau. Trong đó có những loài chỉ còn số lượng ít như Kim tuyến (Anvectochitus setaceus), Vù hương (Cinnamomum balansae), Kim giao (P.fleuryi), Dẻ tùng sọc trắng (Sam bông) (Amentotaxus argotaenia),Trầm hương (Aquilaria crassna)…
 
Tam Đảo nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam là một trong 9 vùng địa lý sinh học có sự đa dạng cao về thành phần khu hệ thực vật. Hơn nữa đây còn là nơi giao lưu của các vùng địa lý sinh học khác như Hoàng Liên Sơn, Vân Nam Trung Quốc, Bắc Trung Bộ cho nên tính đa dạng và phong phú của hệ thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo càng cao.
Hệ thực vật Tam Đảo chịu ảnh hưởng của hệ thực vật Nam Trung Hoa với một số loài đặc trong thuộc các họ như: họ Re (Lauraceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Dẻ (Fagaceae) đặc biệt ở đây có nhiều đại diện của ngành Hạt trần: Sam bông (Amentotaxus argotaenia),  Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông lá ngắn (Podocarpus pilgeri), Thông tre (P. neriifolius) và  Kim giao (Podocapus fleuryi).
- Các loài đặc trưng cho hệ thực vật Vân Nam - Quý Châu ít nhiều mang tính ôn đới bao gồm một số loài sống ở độ cao trên 1000m thuộc họ Long não (Lauraceae), họ Thích (Aceraceae), họ Dẻ (Fagaceae) , họ Hoàng đàn (Cupressaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Chè (Theaceae). Đặc biệt ở độ cao này, thực vật Hạt trần tương đối nhiều.
- Các loài thực vật đặc trưng cho vùng nhiệt đới Ấn Độ, Mã Lai, Thái Lan thường phần bố ở đai dưới 1000m gồm các cây họ Bàng (Combretaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bằng lăng (Lythraceae).
 
Hệ thực vật ở Vườn Quốc gia Tam Đảo có tính đa dạng sinh học khá cao nên cũng có tính đa dạng về giá trị sử dụng, giá trị kinh tế và có ý nghĩa lớn đối với khoa học.
 
Số loài thực vật mang ý nghĩa kinh tế khá nhiều, chiếm hơn nửa số loài trong toàn Vườn. Dựa trên danh lục hệ thực vật đã phát hiện thì hệ thực vật Tam Đảo có thể chia thành các nhóm chính như sau: (Theo Nguyễn Văn Việt - Trung tâm nghiên cứu và phát triển rừng - Trường Đại học Lâm nghiệp).
 
Bảng 3. Phân chia hệ thực vật Tam Đảo dựa vào giá trị kinh tế
 
Nhóm
Giá trị
Số loài
Tỷ lệ (%)
I
Cây cho gỗ
487
33,91
II
Cây cho quả
32
2,23
III
Cây cho sợi
29
2,02
IV
Cây làm thuốc
335
23,33
V
Cây cho tinh dầu
37
2,57
VI
Cây làm rau ăn
43
2,99
VII
Cây làm cảnh
162
11,28
VIII
Cây cho tinh bột
7
0,49
IX
Cây chưa xác định mục đích
304
21,17
 
 
Nhóm cây cho gỗ
Nhóm cây này gồm 487 loài chiếm 33,91%. Một số loài điển hình là Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Đinh (Markhamia stipulata), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Chò chỉ (Shorea chinensis), Táu (Vatica odorata), Sao (Hopea chinensis), Vàng tâm (Manglietia conifera), Giổi lông (Michelia balansae), Giổi nhung (M. faveolata), Kháo lá bắc to (Machilus grandibrateata), Vù hương (Cinnamomum balansae), Gù Hương (Cinnamomum partheroxylon), Sâng (Pometia pinnata), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Kim giao (Nageia fleuryi), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sam bông (Amentotaxus argotaenia),  Thông nàng (Podocarpus pilgeri), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana).
Ngoài ra còn có một số loài cây gỗ dùng trong xây dựng cơ bản khá phổ biến nằm rải rác trong các họ như các loài cây thuộc các họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae)…
 
Nhóm cây cho quả ăn
Nhóm này gồm khoảng 32 loài chiếm 2.23 % điểm hình như Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium trandenum), Dâu da đất (Baccaurea sapida), Dâu da xoan (Spondias lakonensis), Sấu (Dracotomelum duperreanum), Hồng (Diospiros kaki), Chôm chôm rừng (Nephelium lappaceum), Dọc (Garcinia multiflora), Bứa (Garcinia oblongifolia), Tai chua (Garcinia cowa)…
 
Nhóm cây cho sợi
Nhóm này có 29 loài chiếm 2.02 %, điểm hình như Song mật (Calamus platycanthus), Song đất (Calamus rudentum), Lá Nón gai (Licuala saribus), Cọ (Licuala  cochichinensis), Tre ngà (Bambusa arundinacea), Tre gai (Bambusa spinosa), Hóp nước (Bambusa  tulloides), Giang (Dendrocalamus sp.), Nứa (Staenolena dullosa), Diễn(Sinocalamus lotiflorus), Mai (Sinocalamus giganteus)…
 
Nhóm cây cho tính dầu
Nhóm này gồm 37 loài chiếm 2.57 % điều hình như Gù hương (Cinnamomum parthenoxylon), Mần tang (Lisea cubeba), Hồi núi (Illicium sp.), Lai (Aleurites moluccana), Trẩu (Vernicia montana), Quế (Cinnamomum cassia), Bời lời (Litsea glutinosa), Thôi chanh (Evodia meliaefolia), Sẹ (Alpinia globosa), Sa nhân (Amomum xanthioides), Sa nhân quả to (Amomum villosum)…
 
Nhóm cây cho rau ăn
Nhóm cây này có khoảng 43 loài chiếm 2.99 %. Điển hình như: Rau dớn (Calliperis asculenta), rau Tàu bay (Crassocephalum crepioides), Ngải cứu (Artemisia vulgaris), Măng các loại (phân họ Bambosoidae family), rau Sắng (Meliantha suavis), Lá lốt (Piper lotot), Giấp cá (Houtuynia cordata), Chuối rừng (Musa sp.)…

Nhóm cây làm cảnh
Nhóm cây này có khoảng 162 loài chiếm 11,28%. Hầu hết các loài này năm trong họ Lan (Orchidaceae) gồm các loài như Hoàng thảo Tam Đảo (Dendrobium tamdaoense) loài có dáng thân và hoa đẹp làm cảnh, Hoàng thảo sừng dài (Dendrobium longicarnum), Hoàng thảo dẹt (Dendrobium nobile), Lan đất hoa trắng (Calanthe veratrifolia), Phi diệp (Dendrobium superbum), Vàng anh (Saraca dives), Đuôi phượng (Raphidophora hookeri). Một số loài trong họ Đỗ Quyên (Ericaceae) như: Đỗ quyên hoa đỏ, Đỗ quyên hoa tím, Đỗ quyên hoa trắng (Rhododendron spp.), Hoa chuông (Enkianthus serulatus), Nến (Lyonia ovalifolia). Một số loài cây trong họ chè (Theaceae) như Hải đường (Camellia amplexiaulis), Chè hoa vàng (Camellia petelotii; Camellia gilberthi)…
 
Nhóm cây làm thuốc
Số cây làm thuốc gồm 335 loài chiếm 23.33 %. Các loài điển hình như Ba kích (Morinda officinalis), Hoàng đằng (Fibraurea recisa), Chân chim (Schefflera octophylla), Cốt toái bổ (Drynaria fortunei), Vù hương (Cinnamomum balansae), Quế (Cinnamomum cassia), Trần hương (Aquilaria crassna), Khối tía (Ardisia silvestris), Sa nhân (Amomum xanthioides), Sa nhân quả to (Amomum villosum), Chân chim núi (Schefflerra pes - avis), Kim ngân (Lonicera japonica), Cẩu tích (Cibatium barometz), Na rừng (Kadsura longipedunculata), Củ mài (Dioscorea persimilis), Lõi tiền (Stephania hernandifolia), Hà thủ ô (Streptocaulon juventas), Thiên niên kiện (Homalomela oculta), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Bách bộ (Stemona tuberosa), Khúc khắc (Smilax glabra)…
 
Nhóm cây cho tinh bột
Gồm 7 loài chiếm 0,49 % như Củ mài (Dioscorea persimilis) …
Ngoài những cây có giá trị kinh tế trên còn tập hợp khá nhiều loài cây không kém phần quan trọng như cây cho tanin thuộc Chi sồi dẻ (Castanopsis - họ Fagaceae) như Cà ổi lá đỏ (Castanopsis hystris), Cà ổi Ấn Độ (Castanopsis indica), Dẻ bắc giang (Lithocarpus bacgiangensis, … một số loài cây trong họ Sim (Myrtaceae), họ Bàng (Combretaceae), … cây chỉ thị đất chua thuộc họ Cói (Cyperaceae); cây cho phân xanh gồm các loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae) hoặc họ Cúc (Asteraceae)
Nhóm cây chưa xác đinh mục đích:
Nhóm này có 304 loài, chiếm 21.17% tổng số loài thực vật có ở Vườn quốc gia Tam Đảo .Những loài này nằm  chủ yếu trong nhóm cây bụi, hoà thảo và rêu. Những loài cây này đến nay vẫn được nghiên cứu nhiều để xác định các lý, hoá tính cũng như công dụng của chúng.
 
Cho đến nay, kết quả điều tra, thống kê về các loài thực vật cho thấy hệ thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo có 64 loài quí hiếm (phụ lục 2.1) và 42 loài đặc hữu (phụ lục 2.2) trong đó có nhiều loài được thu thập và mô tả lần đầu tiên tại Vườn Quốc gia Tam Đảo . Đây cũng là những loài thực vật có giá trị cho bảo tồn và có ý nghĩa lớn cho khoa học. Tuy nhiên nếu tiếp tục điều tra có thể còn phát hiện thêm được những loài đặc hữu và quí hiếm trong hệ thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Các tin khác :
•  Giới thiệu Vườn Quốc gia Tam Đảo 
•  Vẻ đẹp Tam Đảo 
•  Tam Đảo - Đà Lạt xứ Bắc 
•  Tam Đảo trong sương 
•  Hệ thực vật Rừng Quốc gia Tam Đảo